• Chú ý

  • Hiện kết quả từ 1 tới 12 của 12
    1. #1
      Super Moderator
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Avatar của Lãng khách
      Ngày tham gia
      03/10/09
      Tuổi
      31
      Bài gửi
      30.782
      Cảm ơn
      64.205
      Được cảm ơn 121.740 lần trong 27.406 Bài viết
      REP Power
      159

      Mặc định Tìm hiểu về cache L1, L2, bộ nhớ RAM, ROM?

      Lãng khách thấy nhiều bạn chỉ quan tâm đến RAM mà không chú ý đến sự khác biệt của cache L1, cache L2, L3,... Nội dung dưới đây sẽ đưa chúng ta đi tìm hiểu sâu hơn các giá trị và thuật ngữ này,...

      Thuật ngữ L1 cache, L2 cache là tên gọi của vùng nhớ đệm – nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý. Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý, nó giống như một trạm trung chuyển hay cảng tập kết hàng hoá.
      Nói một cách bài bản, cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt. Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập.Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa).

      * Memory cache: Đây là một khu vực bộ nhớ được tạo bằng bộ nhớ tĩnh (SRAM) có tốc độ cao nhưng đắt tiền thay vì bộ nhớ động (DRAM) có tốc độ thấp hơn và rẻ hơn, được dùng cho bộ nhớ chính. Cơ chế lưu trữ bộ nhớ cahce này rất có hiệu quả. Bởi lẽ, hầu hết các chương trình thực tế truy xuất lặp đi lặp lại cùng một dữ liệu hay các lệnh y chang nhau. Nhờ lưu trữ các thông tin này trong SRAM, máy tính sẽ khỏi phải truy xuất vào DRAM vốn chậm chạp hơn.Một số bộ nhớ cache được tích hợp vào trong kiến trúc của các bộ vi xử lý. Chẳng hạn, CPU Intel đời 80486 có bộ nhớ cache 8 KB, trong khi lên đời Pentium là 16 KB. Các bộ nhớ cache nội (internal cache) như thế gọi là Level 1 (L1) Cache (bộ nhớ đệm cấp 1). Các máy tính hiện đại hơn thì có thêm bộ nhớ cache ngoại (external cache) gọi là Level 2 (L2) Cache (bộ nhớ đệm cấp 2). Các cache này nằm giữa CPU và bộ nhớ hệ thống DRAM. Sau này, do nhu cầu xử lý nặng hơn và với tốc độ nhanh hơn, các máy chủ (server), máy trạm (workstation) và mới đây là CPU Pentium 4 Extreme Edition được tăng cường thêm bộ nhớ đệm L3 Cache.

      * Disk cache: Bộ nhớ đệm đĩa cũng hoạt động cùng nguyên tắc với bộ nhớ cache, nhưng thay vì dùng SRAM tốc độ cao, nó lại sử dụng ngay bộ nhớ chính. Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ. Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa, nó sẽ kiểm tra trước tiên trong bộ nhớ đệm đĩa xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không. Cơ chế bộ nhớ đệm đĩa này có công dụng cải thiện một cách đáng ngạc nhiên sức mạnh và tốc độ của hệ thống. Bởi lẽ, việc truy xuất 1 byte dữ liệu trong bộ nhớ RAM có thể nhanh hơn hàng ngàn lần nếu truy xuất từ một ổ đĩa cứng. Sẵn đây, xin nói thêm, người ta dùng thuật ngữ cache hit để chỉ việc dữ liệu được tìm thấy trong cache. Và hiệu năng của một cache được tính bằng hit rate (tốc độ tìm thấy dữ liệu trong cache). Trở lại chuyện bộ nhớ cache. Hồi thời Pentium đổ về trước, bộ nhớ cache nằm trên mainboard và một số mainboard có chừa sẵn socket để người dùng có thể gắn thêm cache khi có nhu cầu. Tới thế hệ Pentium II, Intel phát triển được công nghệ đưa bộ nhớ cache vào khối CPU. Nhờ nằm chung như vậy, tốc độ truy xuất cache tăng lên rõ rệt so với khi nó nằm trên mainboard. Nhưng do L2 Cache vẫn phải ở ngoài nhân CPU nên Intel phải chế ra một bo mạch gắn cả nhân CPU lẫn L2 Cache. Và thế là CPU có hình dạng to đùng như một cái hộp (gọi là cartridge) và được gắn vào mainboard qua giao diện slot (khe cắm), Slot 1. Tốc độ truy xuất cache lúc đó chỉ bằng phân nửa tốc độ CPU. Thí dụ, CPU 266 MHz chỉ có tốc độ L2 Cache là 133 MHz. Sang Pentium III cũng vậy. Mãi cho tới thế hệ Pentium III Coppermine (công nghệ 0.18-micron), Intel mới thành công trong việc tích hợp ngay L2 Cache vào nhân chip (gọi là on-die cache). Lúc đó, tốc độ L2 Cache bằng với tốc độ CPU và con CPU được thu gọn lại, đóng gói với giao diện Socket 370.

      Như đã nói, dung lượng của Cache CPU rất quan trọng. Phổ biến nhất là L2 Cache là một chip nhớ nằm giữa L1 Cache ngay trên nhân CPU và bộ nhớ hệ thống. Khi CPU xử lý, L1 Cache sẽ tiến hành kiểm tra L2 Cache xem có dữ liệu mình cần không trước khi truy cập vào bộ nhớ hệ thống. Vì thế, bộ nhớ đệm càng lớn, CPU càng xử lý nhanh hơn. Đó là lý do mà Intel bên cạnh việc tăng xung nhịp cho nhân chíp, còn chú ý tới việc tăng dung lượng bộ nhớ Cache. Do giá rất đắt, nên dung lượng Cache không thể tăng ồ ạt được. Bộ nhớ cache chính L1 Cache vẫn chỉ ở mức từ 8 tới 32 KB. Trong khi, L2 Cache thì được đẩy lên dần tới hiện nay cao nhất là Pentium M Dothan 2 MB (cho máy tính xách tay) và Pentium 4 Prescott 1 MB (máy để bàn). Riêng dòng CPU dành cho dân chơi game và dân multimedia “prồ” là Pentium 4 Extreme Edition còn được bổ sung L3 Cache với dung lượng 2 MB. Đây cũng là CPU để bàn có tổng bộ nhớ cache lớn nhất (L1: 8 KB, L2: 512 KB, L3: 2 MB).
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    2. Có 37 thành viên cảm ơn bạn Lãng khách vì bài viết:
      Angelka1 (22/11/14), begin10 (05/06/11), bolzano_1989 (25/01/10), changanuong (30/10/13), Chung (17/02/10), doilacaidech (05/03/11), Du Van Dong (25/01/10), ducanhnguyen2k (21/04/10), duongcaotri (13/04/11), firopp (02/04/10), itdongnai (09/03/12), kunai (30/10/13), l0v3story (02/02/12), Lãng Du (25/01/10), lekimhung (05/05/14), lonely_haipro (12/04/12), luckystarbk (28/11/13), luunb (04/10/13), namsoncomputer (06/09/11), Ngọc Tuyên (11/05/11), N.Ngọc Duy Ái  (16/08/11), Nguyễn Sơn (26/03/10), nguyenquat92 (30/09/12), nguyenquochoang (16/08/11), nonames1988 (28/03/10), NoOne (31/07/10), pnn2002 (12/03/14), quangloi37 (12/03/10), rongchoi1minh (11/12/12), rovio2020 (19/12/12), skyleo (25/01/10), thinhars (16/10/10), Tran Quang Ha  (25/01/10), tuankenvin (14/03/13), vietcong1980 (02/04/10), viking29 (17/11/11), vuongnn_edu (17/04/10)

    3. #2
      Sứ giả thiện chí của Bkav
      Danh vọng Danh vọng
      Avatar của huuhau91
      Ngày tham gia
      29/11/09
      Bài gửi
      63
      Cảm ơn
      0
      Được cảm ơn 28 lần trong 15 Bài viết
      REP Power
      19

      Mặc định

      Các bạn muốn hiểu rõ hơn nữa thì tốt nhất hãy vào wikipedia. Mọi kiến thức cơ bản bạn cần điều nằm ở đó. Chỉ cần chịu khó bỏ ít thời gian nghiền ngẩm.
      Đây là bài viết chi tiết hơn:
      http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1...99_nh%E1%BB%9B
      Let bygone be bygone!
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    4. Có 2 thành viên cảm ơn bạn huuhau91 vì bài viết:
      namsoncomputer (06/09/11), Nguyễn Sơn (26/03/10)

    5. #3
      Super Moderator
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Avatar của Lãng khách
      Ngày tham gia
      03/10/09
      Tuổi
      31
      Bài gửi
      30.782
      Cảm ơn
      64.205
      Được cảm ơn 121.740 lần trong 27.406 Bài viết
      REP Power
      159

      Mặc định

      Trích dẫn Nguyên văn bởi huuhau91 Xem bài viết
      Các bạn muốn hiểu rõ hơn nữa thì tốt nhất hãy vào wikipedia. Mọi kiến thức cơ bản bạn cần điều nằm ở đó. Chỉ cần chịu khó bỏ ít thời gian nghiền ngẩm.
      Đây là bài viết chi tiết hơn:
      http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1...99_nh%E1%BB%9B
      Lãng khách thấy cái liên kết đó không phù hợp lắm với chủ đề của Lãng khách gửi đâu nhé bạn.
      Lãng khách gửi topic này muốn giúp một số bạn giải thích được vì sao mà những máy tính trang bị chip mới hơn, L1, L2, L3 cache cao hơn lại đắt hơn nhiều như thế,...
      Chắc chắn nhiều bạn vẫn lầm tưởng chỉ căn cứ vào xung nhịp, vào RAM là đã có thể đánh giá cấu hình hay khả năng xử lí như vậy là tương đương với nhau. Sự thật không phải vậy. Các L1, L2, L3 càng lớn máy tính xử lí càng nhanh, đương nhiên các khác biệt này sẽ giúp máy tính xử lí nhanh hơn nhiều là so sánh đơn giản về RAM. Sự khác biệt về chip thì xin phép miễn bàn xa xôi .
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    6. Có 4 thành viên cảm ơn bạn Lãng khách vì bài viết:
      duongcaotri (13/04/11), Nguyễn Sơn (26/03/10), NoOne (31/07/10), rovio2020 (19/12/12)

    7. #4
      Sứ giả thiện chí của Bkav
      Danh vọng
      Avatar của Lãng Du
      Ngày tham gia
      02/10/09
      Đến từ
      Hải Phòng
      Bài gửi
      143
      Cảm ơn
      60
      Được cảm ơn 86 lần trong 50 Bài viết
      REP Power
      19

      Mặc định

      Merci Lang Khach. Đúng là mình cũng ít để ý đến vấn đề này nay mới rõ thêm nhiều hi
      Có khi nào trên đường đời tấp nập..
      Ta vô tình vấp phải tập đôla


      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    8. Thành viên đã cảm ơn Lãng Du vì bài viết:
      duongcaotri (13/04/11)

    9. #5
      VIP Members
      Danh vọng
      Avatar của ngthuha
      Ngày tham gia
      02/10/09
      Bài gửi
      1.355
      Cảm ơn
      3.771
      Được cảm ơn 2.693 lần trong 946 Bài viết
      REP Power
      21

      Mặc định

      Hic, hoá ra vấn đề nầy em lại biết lâu rồi. Cache càng lớn sẽ giảm đi rất nhiều tình trạng "thắt cổ chai". Ngoài xung nhịp của chip , L1 L2 càng lớn càng tốt, luồng dử liệu trao đổi không phải đứng "xếp hàng" chờ.
      Giống như 1 xe moto phân khối lớn mạnh mẻ cần phải có đường xá rộng thoáng mới phát huy được hết công sức của xe.
      Em đang sử dụng Pentium Prescost (dòng chíp cuối cùng của P4) ngay những ngày đầu mới có.
      Duyệt web, check mail, vào diễn đàn...: xem ra chẳng lạc hậu chút nào.
      --- Ngoài lề tí: em thấy ở Đức, Na Uy người ta hay dùng AMD nhiều hơn bởi vấn đề trả tiền HDH, hay các soft. Nên người Việt mình phải tính sao cho kinh tế. VNam mình còn nghèo nhưng xem ra xài sang hơn .. hi`-----
      Lần sửa cuối bởi ngthuha; 25/01/10 lúc 03:45 PM
      Quê hương nếu ai không nhớ,
      Sẽ không lớn nổi thành người.
      (Thơ Đỗ Trung Quân)
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    10. Thành viên đã cảm ơn ngthuha vì bài viết:
      Nguyễn Sơn (26/03/10)

    11. #6
      Super Moderator
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Avatar của Lãng khách
      Ngày tham gia
      03/10/09
      Tuổi
      31
      Bài gửi
      30.782
      Cảm ơn
      64.205
      Được cảm ơn 121.740 lần trong 27.406 Bài viết
      REP Power
      159

      Mặc định

      Trích dẫn Nguyên văn bởi ngthuha Xem bài viết
      Hic, hoá ra vấn đề nầy em lại biết lâu rồi. Cache càng lớn sẽ giảm đi rất nhiều tình trạng "thắt cổ chai". Ngoài xung nhịp của chip , L1 L2 càng lớn càng tốt, luồng dử liệu trao đổi không phải đứng "xếp hàng" chờ.
      Giống như 1 xe moto phân khối lớn mạnh mẻ cần phải có đường xá rộng thoáng mới phát huy được hết công sức của xe.
      Em đang sử dụng Pentium Prescost (dòng chíp cuối cùng của P4) ngay những ngày đầu mới có.
      Duyệt web, check mail, vào diễn đàn...: xem ra chẳng lạc hậu chút nào.
      --- Ngoài lề tí: em thấy ở Đức, Na Uy người ta hay dùng AMD nhiều hơn bởi vấn đề trả tiền HDH, hay các soft. Nên người Việt mình phải tính sao cho kinh tế. VNam mình còn nghèo nhưng xem ra xài sang hơn .. hi`-----
      Lãng khách xin bổ sung rõ hơn về các thuật ngữ RAM động (RAM mà các bạn vẫn đang sử dụng) và RAM tĩnh:

      RAM động và Ram tĩnh

      Có hai kiểu bộ nhớ RAM đó là RAM động (DRAM) và RAM tĩnh (SRAM). Bộ nhớ RAM đã sử dụng trên các máy tính là loại RAM động. Kiểu RAM này, mỗi bit dữ liệu được lưu bên trong chip nhớ bằng một tụ điện nhỏ, các tụ điện này là thành phần rất nhỏ, nghĩa là có đến hàng triệu tụ điện trên một vùng diện tích mạch điện nhỏ, điều này vẫn được người ta gọi là “mật độ cao”. Các tụ điện này có thể bị mất điện áp tích tụ sau một thời gian, chính vì vậy các bộ nhớ động cần phải có quá trình nạp lại, quá trình này vẫn thường được chúng ta gọi là “làm tươi” (refresh). Trong suốt chu kỳ này dữ liệu không thể được đọc ra hoặc được ghi vào. Bộ nhớ động rẻ hơn so với bộ nhớ tĩnh và cũng tiêu thụ ít năng lượng hơn bộ nhớ tĩnh. Tuy nhiên như chúng ta đã biết, trên RAM động, dữ liệu không được cung cấp một cách sẵn sàng và nó có thể không làm việc nhanh bằng CPU.

      Với bộ nhớ tĩnh, đây là kiểu bộ nhớ có thể làm việc nhanh bằng CPU, vì mỗi bit dữ liệu đều được lưu trên một mạch có tên gọi flip-flop (F-F), mỗi một F-F này lại có thể cung cấp dữ liệu với độ trễ rất nhỏ, vì các F-F không yêu cầu đến chu trình làm tươi. Vấn đề ở đây là các F-F này lại yêu cầu một số transistor, có kích thước to hơn so với một tụ điện trên RAM động. Điều này có nghĩa là trên cùng một diện tích giống nhau, nơi mà ở bộ nhớ tĩnh chỉ có một F-F tồn tại thì trên bộ nhớ động sẽ có đến hàng trăm tụ điện. Chính vì vậy các bộ nhớ tĩnh thường có mật độ thấp hơn – các chíp có dung lượng thấp hơn. Hai vấn đề khác với bộ nhớ tĩnh nữa là: nó thường đắt hơn nhiều và tiêu tốn nhiều năng lượng hơn (do đó nóng hơn) so với bộ nhớ tĩnh.

      Khi kích đúp vào một biểu tượng trong Windows để chạy một chương trình nào đó, các chương trình thông thường được lưu trên ổ đĩa cứng của máy tính, khi được gọi nó sẽ được nạp vào bộ nhớ RAM sau đó từ bộ nhớ RAM, CPU nạp chương trình thông qua một mạch có tên gọi là memory controller, thành phần này được đặt bên trong chipset (north bridge chip- chíp cực bắc) trên các bộ vi xử lý Intel hoặc bên trong CPU trên các bộ vi xử lý AMD. Trong hình 1 chúng tôi đã tóm tắt sơ qua nguyên tắc làm việc này (với các bộ vi xử lý AMD bạn hãy bỏ qua phần chipset đã được vẽ).


      Hình 1: Cách dữ liệu được truyền tải đến CPU

      CPU không thể tìm nạp dữ liệu trực tiếp từ các ổ đĩa cứng vì tốc độ truy xuất dữ liệu của ổ đĩa cứng là quá thấp với nó, thậm chí nếu nếu bạn có cả ổ đĩa cứng với tốc độ truy xuất lớn nhất. Hãy lấy một số ví dụ làm dẫn chứng cho điều này, ổ cứng SATA-300 – một loại ổ đĩa cứng có tốc độ nhanh nhất hiện đang được cung cấp ngày nay đến phần lớn người dùng – có tốc độ truyền tải theo lý thuyết là 300 MB/s. Một CPU chạy với tốc độ 2GHz với đường dữ liệu* 64-bit sẽ truyền tải dữ liệu bên trong với tốc độ 16GB/s – như vậy là lớn gấp 50 lần.
      (- Đường dữ liệu: Các đường giữa các mạch bên trong CPU. Chỉ cần một phép toán đơn giản bạn cũng có thể biết được rằng mỗi CPU có một số đường dữ liệu khác nhau bên trong, mỗi một đường trong chúng lại có chiều dài khác nhau. Ví dụ với các bộ vi xử lý AMD thì đường dữ liệu giữa L2 memory cache và L1 memory cache có độ rộng 128-bit, trong khi đó của Intel là 256-bit. Đây chỉ là giải thích con số mà chúng tôi đã công bố trong đoạn trên không cố định, nhưng dẫu sao CPU luôn nhanh hơn rất nhiều so với các ổ đĩa cứng).

      Sự khác nhau trong tốc độ cũng bắt nguồn từ một thực tế đó là các ổ đĩa cứng còn bao gồm cả hệ thống cơ khí, các hệ thống cơ khí này bao giờ cũng chậm hơn hệ thống điện tử thuần túy, các thành phần cơ khí phải chuyển động để dữ liệu mới có thể được đọc ra (điều này chậm hơn rất nhiều so với việc chuyển động của điện tử). Hay nói cách khác, bộ nhớ RAM là 100% điện tử, có nghĩa là nó sẽ nhanh hơn tốc độ của ổ đĩa cứng và quang.

      Tuy nhiên đây chính là vấn đề, thậm chí bộ nhớ RAM nhanh nhất cũng không nhanh bằng CPU. Nếu bạn sử dụng các bộ nhớ DDR2-800, chúng truyền tải dữ liệu ở tốc độ 6.400 MB/s – 12.800 MB/s nếu sử dụng chế độ hai kênh. Thậm chí con số này còn có thể lên đến 16GB/s trong ví dụ trước, vì các CPU hiện nay còn có thể tìm nạp dữ liệu từ L2 memory cache ở tốc độ 128- bit hay 256-bit, chúng ta đang nói về 32 GB/s hoặc 64 GB/s nếu CPU làm việc bên trong với tốc độ 2GHz. Bạn không nên lo lắng về những vấn đề với “L2 memory cache”, chúng tôi sẽ giải thích vấn đề này sau. Tất cả những gì bạn cần nhớ là bộ nhớ RAM chậm hơn CPU.

      Vấn đề không chỉ dừng lại ở tốc độ truyền tải mà còn cả độ trễ. Độ trễ (thời gian truy cập) là lựợng thời gian mà bộ nhớ giữ chậm trong việc chuyển ngược trở lại dữ liệu mà CPU đã yêu cầu trước đó – điều này không thể thực hiện được ngay lập tức. Khi CPU yêu cầu chỉ lệnh (hoặc dữ liệu) được lưu tại một địa chỉ nào đó thì bộ nhớ sẽ giữ chậm một khoảng thời gian để phân phối lệnh này (hoặc dữ liệu) trở ngược lại. Trên các bộ nhớ hiện nay, nếu nó được dán nhãn có CL bằng 5 (CAS Latency, đây chính là độ trễ mà chúng ta đang nói đến) thì điều đó có nghĩa rằng bộ nhớ sẽ cung cấp dữ liệu đã được yêu cầu sau 5 chu kỳ clock nhớ - nghĩa là CPU sẽ phải chờ đợi.

      Việc chờ đợi sẽ làm giảm hiệu suất của CPU. Nếu CPU phải đợi đến 5 chu kỳ clock để nhận được chỉ lệnh hoặc dữ liệu mà nó đã yêu cầu thì hiệu suất của nó sẽ chỉ còn 1/5 so với hiệu suất sử dụng bộ nhớ có khả năng cung cấp dữ liệu tức thời. Nói theo cách khác, khi truy cập bộ nhớ DDR2-800 với CL5 thì hiệu suất của CPU bằng với hiệu suất của CPU làm việc với bộ nhớ 160 MHz (800 MHz / 5) với khả năng cung cấp dữ liệu tức thời.

      Để dễ dàng hơn, các bạn cứ tưởng tượng, đối với loại bộ nhớ thông dụng nhất trên máy vi tính, bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên động (DRAM), một bóng bán dẫn và một tụ điện đi đôi với nhau để tạo thành một tế bào nhớ. Tụ điện sẽ giữ bit thông tin 0 hoặc 1. Bóng bán dẫn hoạt động như một ngắt để mạch điều khiển trên chip nhớ đọc hoặc thay đổi trạng thái của tụ điện.một tụ điện giống như một thùng nước có thể chứa các điện tử. Để lưu 1 vào tế bào nhớ, thùng nước này sẽ được đổ đầy các điện tử. Để lưu 0, thùng nước sẽ được làm rỗng. Tuy nhiên, thùng nước có một khuyết điểm là nó có một lỗ thủng. Trong khoảng vài mili giây, một thùng nước đầy sẽ trở nên trống rỗng. Do đó, để bộ nhớ động làm việc, hoặc là CPU hoặc là bộ điều khiển bộ nhớ phải nhanh chóng nạp lại tất cả các tụ điện đang chứa 1 trước khi nó phóng điện. Để làm được việc này, bộ điều khiển sẽ đọc lại nội dung nhớ rồi ghi nó vào lại. Quá trình làm tươi này tự động diễn ra hàng ngàn lần trong một giây. Và chính quá trình này tạo nên phần "động" cho RAM. Ram động phải được làm tươi một cách liên tục nếu không nó sẽ "quên" mọi thứ nó đang giữ. Mặt hạn chế của quá trình làm tươi là nó sẽ mất một khoảng thời gian để thực hiện và điều này có thể làm giảm tốc độ của bộ nhớ.
      Dram hoạt động bằng cách gửi dòng nạp điện qua cột phù hợp (CAS) để kích hoạt bóng bán dẫn tại mỗi bit trong cột. Khi ghi, các hàng sẽ chứa trạng thái mà tụ điện đã mang. Khi đọc, một bộ khuyếch đại hướng sẽ xác định mức nạp điện trong tụ. Nếu hơn 50%, nó sẽ đọc là 1. Ngược lại, nó sẽ đọc là 0. Một bộ đếm sẽ theo dõi trình tự làm tươi dựa trên hàng nào được truy xuất theo thứ tự nào. Quảng thời gian để làm tất cả việc này rất nhỏ, do đó nó được biểu hiện bằng đơn vị nano giây ( hàng tỉ của giây) . Một chíp nhớ được đánh giá 70ns nghĩa là nó sẽ mất 70ns để hoàn tất quá trình đọc và nạp lại điện cho mỗi tế bào.
      RAM tĩnh (SRAM) sử dụng công nghệ hoàn toàn khác. Các bit của bộ nhớ được giữ dưới dạng các con bật. Một con bật cho tế bào nhớ tốn từ 4 hoặc 6 bóng bán dẫn. Và chúng không cần được làm tươi . Nhờ vậy, tốc độ của RAM tĩnh nhanh hơn rất nhiều so với RAM động. Tuy nhiên , vì nó cần rất nhiều thành phần nên tế bào nhớ tĩnh chiếm nhiều không gian trên chíp hơn là tế bào bộ nhớ động. Do đó, trên cùng một chip, chúng ta có ít bộ nhớ hơn. Dẫn đến việc chế tạo RAM tĩnh tốn nhiều chi phí hơn.
      Như vậy RAM tĩnh nhanh và đắt tiền hơn . RAM động rẻ hơn nhưng chậm hơn, nhưng như đã nói ở trên tế bào nhớ của Ram động không chiếm nhiều không gian nên có thể sản xuất được những Chip nhớ có dung lượng bộ nhớ cao mà lại có kích thước phù hợp hơn. Chính nhờ những ưu điểm đó RAM động ngày càng phát triển và được dùng làm không gian nhớ chính cho hệ thống. DDRAM đã có một quá trình phát triển liên tục từ DDR1 có bus thấp nhất là 266Mhz cho đến hiện nay là DDR3 có bus là 1066Mhz và 1333Mhz. Nói như vậy không có nghĩa là SDRAM sẽ không còn được sản xuất nữa, mà SDRAM nay vẫn còn được dùng để chế tạo các bộ đệm nhạy tốc độ cho CPU.



      Mặc dù Ram tĩnh có tốc độ nhanh hơn RAM động nhưng những nhược điểm của nó vẫn ngăn cản nó trở thành RAM chính.

      Giải pháp đã tìm thấy để giảm sự ảnh hưởng trong việc sử dụng bộ nhớ RAM chậm hơn CPU là sử dụng một số lượng nhỏ các RAM tĩnh giữa CPU và bộ nhớ RAM. Công nghệ này được gọi là bộ nhớ Cache và ngày nay có một số lượng nhỏ bộ nhớ tĩnh này được đặt bên trong CPU.







      Bộ nhớ Cache copy hầu hết các dữ liệu đã được truy cập gần đây từ bộ nhớ RAM vào bộ nhớ tĩnh và đoán dữ liệu gì CPU sẽ hỏi tiếp theo, tải chúng đến bộ nhớ tĩnh trước khi CPU yêu cầu thực sự. Mục đích là làm cho CPU có thể truy cập vào bộ nhớ Cache thay vì truy cập trực tiếp vào bộ nhớ RAM, vì nó có thể truy vấn dữ liệu từ bộ nhớ Cache một cách tức thời hoặc cũng hầu như ngay lập tức thay vì phải đợi khi truy cập vào dữ liệu được đặt trong RAM. CPU càng truy cập vào Cache nhớ thay cho RAM nhiều hơn thì hệ thống sẽ càng hoạt động nhanh hơn. Cũng theo đó, chúng ta sẽ sử dụng hoán đổi hai thuật ngữ “dữ liệu” và “chỉ lệnh” cho nhau vì những gì được lưu bên trong mỗi địa chỉ nhớ không có gì khác biệt đối với bộ nhớ.

      Kiến trúc được sử dụng ngày nay: cả hai Cache nhớ L1 và L2 đều được đặt bên trong CPU và chạy với tốc độ clock bên trong của CPU. Chính vì vậy số lượng Cache nhớ mà bạn có trên hệ thống sẽ phụ thuộc vào model của CPU; không có cách nào để có thể tăng được số lượng Cache nhớ mà không cần thay thế CPU.

      Nói chung, tất cả các CPU hiện đại đều có đến ba Cache nhớ: L2 là Cache nhớ lớn hơn và có thể tìm thấy ở giữa bộ nhớ RAM và Cache chỉ lệnh L1, nó nắm giữ cả các chỉ lệnh và dữ liệu; Cache chỉ lệnh L1 được sử dụng để lưu các chỉ lệnh đã được thực thi bởi CPU và lưu dữ liệu để có thể được ghi ngược trở lại bộ nhớ.

      L1 và L2 có nghĩa là “Level 1” và “Level 2”, ám chỉ khoảng cách từ chúng đến lõi CPU (khối thực thi). Có một sự nghi ngờ đó là tại sao lại có đến ba Cache nhớ tách biệt (Cache nhớ dữ liệu L1, Cache nhớ chỉ lệnh L1 và Cache L2).

      Để làm cho độ trễ của bộ nhớ tĩnh giảm xuống bằng “0” là một điều rất khó khăn, đặc biệt với các CPU đang chạy ở tốc độ clock rất cao. Do việc sản xuất các RAM tĩnh có độ trễ xấp xỉ “0” là rất khó nên các hãng sản xuất đã sử dụng một kiểu bộ nhớ chỉ ở trên Cache nhớ L1. Cache nhớ L2 sử dụng RAM tĩnh không nhanh bằng bộ nhớ được sử dụng trên Cache nhớ L1, điều này là do nó có độ trễ nhất định, chính vì vậy nó sẽ chậm hơn đôi chút so với Cache nhớ L1.

      Cache chỉ lệnh L1 làm việc giống như một “Cache đầu vào”, còn Cache dữ liệu L1 làm việc giống như một “Cache đầu ra”. Cache chỉ lệnh L1 (thường nhỏ hơn Cache L2) có hiệu quả cao hơn khi chương trình bắt đầu lặp lại một số phần nhỏ của nó, đó cũng là do các chỉ lệnh đã được yêu cầu sẽ gần khối tìm nạp hơn.
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    12. Có 7 thành viên cảm ơn bạn Lãng khách vì bài viết:
      Chung (09/11/12), duongcaotri (13/04/11), lonely_haipro (12/04/12), ngthuha (25/01/10), Nguyễn Sơn (26/03/10), NoOne (31/07/10), vuongnn_edu (17/04/10)

    13. #7
      Sứ giả thiện chí của Bkav
      Danh vọng
      Avatar của trung123123
      Ngày tham gia
      21/03/10
      Bài gửi
      74
      Cảm ơn
      49
      Được cảm ơn 140 lần trong 44 Bài viết
      REP Power
      18

      Mặc định Memory-RAM - Một số thuật ngữ và kỹ thuật!

      System memory: khi ta nói đến "memory" thì có lẽ hơi mơ hồ và khó hiểu cho rất nhiều bạn, nhất là những bạn chưa có quen biết vi cấu trúc máy tính nhiều. Thực ra từ memory trong quá khứ được diễn tả như đại diện cho tất cả "vùng nhớ" trong computer ngoại trừ CPU. Ðó là trong quá khứ khi mà vi tính chưa phát triễn mạnh mẽ, chứ nếu dùng từ memory mà đề cập trong những thế hệ máy tính hiện nay thì danh từ nầy hoàn toàn mù mờ và không chích xác diễn tả các bộ phận trong máy vi tính nửa. Chúng ta có RAM, ROM, DRAM, SRRAM, DDR SDRAM... Ðể tránh sự lẫn lộn, tôi xin phép diễn tả ngắn gọn về memory và các thuật ngữ liên quan để bạn hiểu rõ.

      Memory: Memory đơn giản là một thiết bị nhớ nó có thể ghi và chứa thông tin. ROM, RAM, Cache, Hard disk, Floppy disk, CD.... đều có thể gọi là memory cả (vì nó vẫn lưu thông tin). Dù là loại memory nào bạn cũng nên để ý đến các tính chất sau đây:

      Sức chứa: thiết bị có thể chứa được bao nhiêu? Ví dụ: CD chứa được 650MB-700MB, Floppy disk chứa được 1.4MB, Cache chứa được 256KB...
      tốc độ truy nhập: bạn nên lưu ý đến tốc độ vận truyền thông tin của thiết bị. Bạn có memory loại "chạy lẹ" khi mà thời gian truy cập thông tin ngắn hơn. Đây là phần quan trọng quyết định tốc độ truy cập của thiết bị. Ví dụ đơn giản là nếu bạn có con CPU chạy tốc độ 1.5Ghz trong khi đó hard disk của bạn thuộc loại "rùa bò" thì dù CPU có lẹ đến đâu nó cũng đàng phải....chờ thôi!
      Tính về tốc độ thì CPU bao giờ cũng lẹ nhất, sau đó là Cache, sau nữa là các loại RAM.
      Interface: bạn nên xem cấu trúc bên ngoài của memory nó có phù hợp với (ăn khớp) các thiết bị khác của bạn không. Ví dụ, nhiều loại RAM tren thị trường có số chân cắm và đặc tính khác nhau. Để phù hợp cho motherboard của bạn, bạn nên xem xét motherboard trước khi mua memory.
      Các loại memory

      ROM (Read Only Memory)
      Ðây là loại memory dùng trong các hãng sãn xuất là chủ yếu. Nó có đặc tính là thông tin lưu trữ trong ROM không thể xoá được và không sửa được, thông tin sẽ được lưu trữ mãi mãi. Nhưng ngược lại ROM có bất lợi là một khi đã cài đặt thông tin vào rồi thì ROM sẽ không còn tính đa dụng (xem như bị gắn "chết" vào một nơi nào đó). Ví dụ điển hình là các con "chip" trên motherboard hay là BIOS ROM để vận hành khi máy vi tính vừa khởi động.

      PROM (Programmable ROM)
      Mặc dù ROM nguyên thủy là không xoá/ghi được, nhưng do sự tiến bộ trong khoa học, các thế hệ sau của ROM đã đa dụng hơn như PROM. Các hãng sản xuất có thể cài đặt lại ROM bằng cách dùng các loại dụng cụ đặc biệt và đắt tiền (khả năng người dùng bình thường không thể với tới được). Thông tin có thể được "cài" vào chip và nó sẽ lưu lại mãi trong chip. Một đặc điểm lớn nhất của loại PROM là thông tin chỉ cài đặt một lần mà thôi. CD có thể được gọi là PROM vì chúng ta có thể copy thông tin vào nó (một lần duy nhất) và không thể nào xoá được.

      EPROM (Erasable Programmable ROM)
      Một dạng cao hơn PROM là EPROM, tức là ROM nhưng chúng ta có thể xoá và viết lại được. Dạng "CD-Erasable" là một điển hình. EPROM khác PROM ở chổ là thông tin có thể được viết và xoá nhiều lần theo ý người xử dụng, và phương pháp xoá là hardware (dùng tia hồng ngoại xoá) cho nên khá là tốn kém và không phải ai cũng trang bị được.

      EEPROM (Electronic Erasable Programmable ROM)
      Ðây là một dạng cao hơn EPROM, đặt điểm khác biệt duy nhất so với EPROM là có thể ghi và xoá thông tin lại nhiều lần bằng software thay vì hardware. Ví dụ điển hình cho loại EPROM nầy là "CD-Rewritable" nếu bạn ra cửa hàng mua một cái CD-WR thì có thể thu và xoá thông tin mình thích một cách tùy ý. Ứng dụng của EEPROM cụ thể nhất là "flash BIOS". BIOS vốn là ROM và flash BIOS tức là tái cài đặt thông tin (upgrade) cho BIOS. Cái tiện nhất ở phương pháp nầy là bạn không cần mở thùng máy ra mà chỉ dùng software điều khiển gián tiếp.

      RAM (Random Access Memory)
      Rất nhiều người nghĩ là RAM khác với ROM trên nhiều khía cạnh nhưng thực tế RAM chẳng qua là thế hệ sau của ROM mà thôi. Cả RAM và ROM đều là "random access memory" cả, tức là thông tin có thể được truy cập không cần theo thứ tự. Tuy nhiên ROM chạy chậm hơn RAM rất nhiều. Thông thường ROM cần trên 50ns để vận hành thông tin trong khi đó RAM cần dưới 10ns (do cách chế tạo). Tôi sẽ trở lại với phần "shadow BIOS ROM" sau nầy.

      SRAM (Static RAM) và DRAM (Dynamic RAM)
      SRAM là loại RAM lưu giữ data mà không cần cập nhật thường xuyên (static) trong khi DRAM là loại RAM cần cập nhật data thường xuyên (high refresh rate). Thông thường data trong DRAM sẽ được refresh (làm tươi) nhiều lần trong một second để lưu giử lại những thông tin đang lưu trữ, nếu không refresh lại DRAM thì dù nguồn điện không ngắt, thông tin trong DRAM cũng sẽ bị mất.
      SRAM chạy lẹ hơn DRAM. Nhiều người có thể lầm lẫn là DRAM là "dynamic" cho nên ưu việt hơn. Điều đó không đúng. Trên thực tế, chế tạo SRAM tốn kém hơn hơn DRAM và SRAM thường có kích cỡ lớn hơn DRAM, nhưng tốc độ nhanh hơn DRAM vì không phải tốn thời gian refresh nhiều lần. Sự ra đời của DRAM chỉ là một lối đi vòng để hạ giá sản xuất của SRAM (tôi sẽ nói rõ hơn về bên trong CPU, DRAM, và SRAM).

      FPM-DRAM (Fast Page Mode DRAM)
      Ðây là một dạng cải tiến của DRAM, về nguyên lý thì FPM DRAM sẽ chạy lẹ hơn DRAM một tí do cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập thông tin. Những loại RAM như FPM hầu như không còn sản xuất trên thị trường hiện nay nữa.

      EDO-DRAM (Extended Data Out DRAM)
      Là một dạng cải tiến của FPM DRAM, nó chạy lẹ hơn FPM DRAM một nhờ vào một số cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập data. Một đặc điểm nữa của EDO DRAM là nó cần support của system chipset. Loại memory nầy chạy với máy 486 trở lên (tốc độ dưới 75MHz). EDO DRAM cũng đã quá cũ so với kỹ thuật hiện nay. EDO-DRAM chạy lẹ hơn FPM-DRAM từ 10 - 15%.

      BDEO-DRAM (Burst Extended Data Out DRAM)
      Là thế hệ sau của EDO DRAM, dùng kỹ thuật "pineline technology" để rút ngắn thời gian dò địa chỉ của data. Nếu các bạn để ý những mẫu RAM tôi giới thiệu trên theo trình tự kỹ thuật thì thấy là hầu hết các nhà chế tạo tìm cách nâng cao tốc độ truy cập thông tin của RAM bằng cách cải tiến cách dò địa chỉ hoặt cách chế tạo hardware. Vì việc giải thích về hardware rất khó khăn và cần nhiều kiến thức điện tử cho nên tôi chỉ lướt qua hoặc trình bày đại ý. Nhiều mẩu RAM tôi trình bày có thể không còn trên thị trường nữa, tôi chỉ trình bày để bạn có một kiến thức chung mà thôi.

      SDRAM (Synchronous DRAM)
      Ðây là một loại RAM có nguyên lý chế tạo khác hẳn với các loại RAM trước. Như tên gọi của nó là "synchronous" DRAM, synchronous có nghĩa là đồng bộ, nếu bạn học về điện tử số thì sẽ rõ hơn ý nghĩ của tính đồng bộ.
      Synchronous là một khái niệm rất quan trọng trong lĩnh vực digital, trong giới hạn về chuyên môn tôi cũng rất lấy làm khó giải thích. Bạn chỉ cần biết là RAM hoạt động được là do một memory controller (hay clock controller), thông tin sẽ được truy cập hay cập nhật mổi khi clock (dòng điện) chuyển từ 0 sang 1, "synchronous" có nghĩa là ngay lúc clock nhảy từ 0 sang 1 chứ không hẳn là clock qua 1 hoàn toàn (khi clock chuyển từ 0 sang 1 hay ngược lại, nó cần 1 khoảng thời gian interval, tuy vô cùng ngắn nhưng cũng mất 1 khoảng thời gian, SDRAM không cần chờ khoảng interval này kết thúc hoàn toàn rồi mới cập nhật thông tin, mà thông tin sẽ được bắt đầu cập nhật ngay trong khoảng interval). Do kỹ thuật chế tạo mang tính bước ngoặc nầy, SDRAM và các thế hệ sau có tốc độ cao hơn hẳn các loại DRAM trước.
      Đây là loại RAM thông dụng nhất trên thị trường hiện nay, tốc độ 66-100-133Mhz.

      DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM)
      Ðây là loại memory cải tiến từ SDRAM. Nó nhân đôi tốc độ truy cập của SDRAM bằng cách dùng cả hai quá trình đồng bộ khi clock chuyển từ 0 sang 1 và từ 1 sang 0. Ngay khi clock của memory chuyển từ 0 sang 1 hoặc từ 1 sang 0 thì thông tin trong memory được truy cập.
      Loại RAM này được CPU Intel và AMD hỗ trợ, tốc độ hiện tại vào khoảng 266Mhz. (DDR-SDRAM đã ra đời trong năm 2000)

      DRDRAM (Direct Rambus DRAM)
      Ðây lại là một bước ngoặc mới trong lĩnh vực chế tạo memory, hệ thống Rambus (cũng là tên của một hãng chế tạo nó) có nguyên lý và cấu trúc chế tạo hoàn toàn khác loại SDRAM truyền thống. Memory sẽ được vận hành bởi một hệ thống phụ gọi là Direct Rambus Channel có độ rộng 16 bit và một clock 400MHz điều khiển. (có thể lên 800MHz)
      Theo lý thuyết thì cấu trúc mới nầy sẽ có thể trao đổi thông tin với tốc độ 800MHz x 16bit = 800MHz x 2 bytes = 1.6GB/giây. Hệ thống Rambus DRAM như thế nầy cần một serial presence detect (SPD) chip để trao đổi với motherboard. Ta thấy kỹ thuật mới nầy dùng 16bits interface, trông trái hẳn với cách chế tạo truyền thống là dùng 64bit cho memory, bởi thế kỹ thuật Rambus (sở hữu chủ của Rambus và Intel) sẽ cho ra đời loại chân Rambus Inline Memory Module (RIMM) tương đối khác so với memory truyền thống.
      Loại RAM này hiện nay chỉ được hỗ trợ bởi CPU Intel Pentum IV, khá đắt, tốc độ vào khoảng 400-800Mhz

      SLDRAM (Synchronous-Link DRAM)
      Là thế sau của DRDRAM, thay vì dùng Direct Rambus Channel với chiều rộng 16bit và tốc độ 400MHz, SLDRAM dùng bus 64bit chạy với tốc độ 200MHz. Theo lý thuyết thì hệ thống mới có thể đạt được tốc độ 400Mhz x 64 bits = 400Mhz x 8 bytes = 3.2Gb/giây, tức là gấp đôi DRDRAM. Ðiều thuận tiện là là SLDRAM được phát triển bởi một nhóm 20 công ty hàng đầu về vi tính cho nên nó rất da dụng và phù hợp nhiều hệ thống khác nhau.

      VRAM (Video RAM)
      Khác với memory trong hệ thống và do nhu cầu về đồ hoạ ngày càng cao, các hãng chế tạo graphic card đã chế tạo VRAM riêng cho video card của họ mà không cần dùng memory của hệ thống chính. VRAM chạy lẹ hơn vì ừng dụng Dual Port technology nhưng đồng thời cũng đắt hơn rất nhiều.

      SGRAM (Synchronous Graphic RAM)
      Là sản phẩm cải tiến của VRAM mà ra, đơn giản nó sẽ đọc và viết từng block thay vì từng mảng nhỏ.

      Flash Memory
      Là sản phẩm kết hợp giửa RAM và hard disk. Có nghĩa là Flash memory có thể chạy lẹ như SDRAM mà và vẫn lưu trữ được data khi power off.

      PC66, PC100, PC133, PC1600, PC2100, PC2400....
      Chắc khi mua sắm RAM bạn sẽ thấy họ đề cập đến những từ như trên. PC66, 100, 133MHz thì bạn có thể hiểu đó là tốc độ của hệ thống chipset của motherboard. Nhưng PC1600, PC2100, PC2400 thì có vẻ hơi...cao và quái lạ! Thực ra những từ nầy ra đời khi kỹ thuật Rambus phát triển. Ðặt điểm của loại motherboard nầy là dùng loại DDR SDRAM (Double Data Rate Synchronous Dynamic RAM). Như đã đề cập ở phần trên, DDR SDRAM sẽ chạy gấp đôi (trên lý thuyết) loại RAM bình thường vì nó dùng cả rising and falling edge của system clock. Cho nên PC100 bình thường sẽ thành PC200 và nhân lên 8 bytes chiều rộng của DDR SDRAM: PC200 * 8 = PC1600. Tương tự PC133 sẽ là PC133 * 2 * 8bytes = PC2100 và PC150 sẽ là PC150 * 2 * 8 = PC2400.

      BUS: gồm nhiều dây dẫn điện nhỏ gộp lại, là hệ thống hành lang để dẫn data từ các bộ phận trong computer (CPU, memory, IO devices). BUS có chứa năng như hệ thống ống dẫn nước, nơi nào ống to thì nước sẽ chạy qua nhiều hơn, còn sức nước mạnh hay yếu là do các bộ phận khác tạo ra.
      FSB (Front Side Bus) hành lang chạy từ CPU tới main memory
      BSB (Back Side Bus) hành lang chạy từ memory controller tới L2 (Cache level 2)

      Cache memory
      Là loại memory có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1MB) và chạy rất lẹ (gần như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache memory nằm gần CPU và có nhiệm vụ cung cấp những data thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache là một cách nâng cao hiệu quả truy cập thông tin của máy tính mà thôi. Những thông tin bạn thường dùng (hoặc đang dùng) thường được chứa trong Cache, mổi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache memory trước xem có tồn tại hay không, nếu có nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào RAM hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft Word lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ nhì thì lẹ hơn rất nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word đã được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và xài lại thôi.
      Lý do Cache memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU (về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache memory nằm gần CPU, trong nhiều trường hợp Cache memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache Level 1 (L1), Cache level 2 (L2)...là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache L1 gần CPU nhất, sau đó là Cache L2...

      Interleave
      Là một kỹ thuật làm tăng tốc độ truy cập thông tin bằng giảm bớt thời gian nhàn rổi của CPU. Ví dụ, CPU cần đọc thông tin thông từ hai nơi A và B khác nhau, vì CPU chạy quá lẹ cho nên A chưa kịp lấy đồ ra CPU phải chờ rồi! A thấy CPU chờ thì phiền quá mới bảo CPU sang B đòi luôn sau đó trỡ lại A lấy cũng chưa muộn! Bởi thế CPU có thể rút bớt thời gian mà lấy được đồ ở cả A và B. Toàn bộ nghĩa interleave là vậy.

      Bursting
      Cũng là một kỹ thuật khác để giảm thời gian truyền tải thông tin trong máy tính. Thay vì CPU lấy thông tin từng byte một, bursting sẽ giúp CPU lấy thông tin mỗi lần là một block.

      ECC (Error Correction Code)
      Khi mua RAM bạn có thể thấy cụm từ nầy mô tả phụ thêm vào loại RAM. Ðây là một kỹ thuật để kiểm tra và sửa lổi trong trường hợp 1 bit nào đó của memory bị sai giá trị trong khi lưu chuyển data. Những loại RAM có ECC thường dùng cho các loại computer quan trọng như server. Tuy nhiên không có ECC cũng không phải là mối lo lớn vì theo thống kê 1 bit trong memory có thể bị sai giá trị khi chạy trong gần 750 giờ, người tiêu dùng bình thường như chúng ta đâu có ai mở máy liên tục tới...1 tháng đâu chớ!

      Register và Buffer (cùng như nhau)
      Ðôi khi mua memory bạn có thể thấy người bán đề cập đến tính chất của memory là có buffer, register...Buffer và Register chủ yếu dùng để quản lý các modules trên RAM. Trông hình vẽ dưới chắc bạn cũng sẽ nhận ra được loại RAM có buffer. Loại RAM có buffer hay register thì sẽ chạy chậm hơn loại RAM không có buffer hay register một ít.

      CAS (Column Address Strobe) latency
      Latency nghĩa là khoảng thời gian chờ đợi để làm cái gì đó, CAS latency là thuật ngữ diễn tả sự delay trong việc truy cập thông tin của memory và được tính bằng clock cycle. Ví dụ, CAS3 là delay 3 "clock cycle". Trong quá khứ các nhà sản xuất cố gắng hạ thấp chỉ số delay xuống nhưng nó sẽ tỷ lệ nghịch với giá thành sản phẩm.

      Cách tính dung lượng của memory (RAM)
      Thông thường RAM có hai chỉ số, ví dụ, 32Mx4. Thông số đầu biểu thị số hàng (chiều sâu) của RAM trong đơn vị Mega Bit, thông số thứ nhì biểu thị số cột (chiều ngang) của RAM. 32x4 = 32MegaBit x 4 cột = 128 Mega Bit = 128/8 Mega Bytes = 16MB. Có nhiều bạn có thể lầm tưởng thông số đầu là Mega Bytes nhưng kỳ thực các hãng sãn xuất mặc định nó là Mega Bit, bạn nên lưu nhớ cho điều nầy khi mua RAM. Ví dụ, 32Mx64 RAM tức là một miếng RAM 256MB.

      Số Pin của RAM

      Khi chọn RAM, ngoài việc chú ý tốc độ, sức chứa, ta phải coi số Pin của nó. Thông thường sốPin của RAM là (tuỳ vào loại RAM): 30, 72, 144, 160, 168, 184 pins.

      SIMM (Single In-Line Memory Module)
      Ðây là loại ra đời sớm và có hai loại hoặc là 30 pins hoặc là 72 pins. Người ta hay gọi rõ là 30-pin SIMM hoặc 72-pin SIMM. Loại RAM (có cấu hình SIMM) nầy thường tải thông tin mỗi lần 8bits, sau đó phát triễn lên 32bits. Bạn cũng không cần quan tâm lắm đến cách vận hành của nó, nếu ra ngoài thị trường bạn chỉ cần nhận dạng SIMM khi nó có 30 hoặc 72 pins. Loại 72-pin SIMM có chiều rộng 41/2" trong khi loại 30-pin SIMM có chiều rộng 31/2"

      DIMM (Dual In-line Memory Modules)
      Cũng gần giống như loại SIMM mà thôi nhưng có số pins là 72 hoặc 168. Một đặc điểm khác để phân biệt DIMM với SIMM là cái chân (pins) của SIMM dính lại với nhau tạo thành một mảng để tiếp xúc với memory slot trong khi DIMM có các chân hoàn toàn cách rời độc lập với nhau. Một đặc điểm phụ nửa là DIMM được cài đặt thẳng đứng (ấn miếng RAM thẳng đứng vào memory slot) trong khi SIMM thì ấn vào nghiêng khoảng 45 độ. Thông thường loại 30 pins tải data 16bits, loại 72 pins tải data 32bits, loại 144 (cho notebook) hay 168 pins tải data 64bits.

      SO DIMM (Small Outline DIMM)
      Ðây là loại memory dùng cho notebook, có hai loại pin là 72 hoặc 144. Nếu bạn để ý một tý thì thấy chúng có khổ hình nhỏ phù hợp cho notebook. Loại 72pins vận hành với 32bits, loại 144pins vận hành với 64bits.

      RIMM (Rambus In-line Memory Modules) và SO RIMM (RIMM dùng cho notebook)
      Là technology của hãng Rambus, có 184 pins (RIMM) và 160 pins (SO RIMM) và truyền data mỗi lần 16bit (thế hệ củ chỉ có 8bits mà thôi) cho nên chạy nhanh hơn các loại củ. Tuy nhiên do chạy với tốc độ cao, RIMM memory tụ nhiệt rất cao thành ra lối chế tạo nó cũng phải khác so với các loại RAM truyền thống. Như hình vẽ bên dưới bạn sẽ thấy miến RAM có hai thanh giải nhiệt kẹp hai bên gọi là heat speader. Nếu bạn dùng Pentium 4 sẽ gặp loại RAM nầy.
      ST
      Người tính không bằng trời tính
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    14. Có 7 thành viên cảm ơn bạn trung123123 vì bài viết:
      Chung (09/11/12), ducanhnguyen2k (21/04/10), l0v3story (02/02/12), malong797979 (19/12/10), Nguyễn Sơn (26/03/10), rovio2020 (19/12/12), thinhars (16/10/10)

    15. 11/01/11, 05:38 AM

      Lý do Spam.

    16. #8
      Đại lý Bán hàng
      Danh vọng
      Avatar của minhtuyenht75
      Ngày tham gia
      07/04/11
      Bài gửi
      37
      Cảm ơn
      4
      Được cảm ơn 34 lần trong 11 Bài viết
      REP Power
      14

      Mặc định cảm ơn bài viết hay

      Trích dẫn Nguyên văn bởi trung123123 Xem bài viết
      System memory: khi ta nói đến "memory" thì có lẽ hơi mơ hồ và khó hiểu cho rất nhiều bạn, nhất là những bạn chưa có quen biết vi cấu trúc máy tính nhiều. Thực ra từ memory trong quá khứ được diễn tả như đại diện cho tất cả "vùng nhớ" trong computer ngoại trừ CPU. Ðó là trong quá khứ khi mà vi tính chưa phát triễn mạnh mẽ, chứ nếu dùng từ memory mà đề cập trong những thế hệ máy tính hiện nay thì danh từ nầy hoàn toàn mù mờ và không chích xác diễn tả các bộ phận trong máy vi tính nửa. Chúng ta có RAM, ROM, DRAM, SRRAM, DDR SDRAM... Ðể tránh sự lẫn lộn, tôi xin phép diễn tả ngắn gọn về memory và các thuật ngữ liên quan để bạn hiểu rõ.

      Memory: Memory đơn giản là một thiết bị nhớ nó có thể ghi và chứa thông tin. ROM, RAM, Cache, Hard disk, Floppy disk, CD.... đều có thể gọi là memory cả (vì nó vẫn lưu thông tin). Dù là loại memory nào bạn cũng nên để ý đến các tính chất sau đây:

      Sức chứa: thiết bị có thể chứa được bao nhiêu? Ví dụ: CD chứa được 650MB-700MB, Floppy disk chứa được 1.4MB, Cache chứa được 256KB...
      tốc độ truy nhập: bạn nên lưu ý đến tốc độ vận truyền thông tin của thiết bị. Bạn có memory loại "chạy lẹ" khi mà thời gian truy cập thông tin ngắn hơn. Đây là phần quan trọng quyết định tốc độ truy cập của thiết bị. Ví dụ đơn giản là nếu bạn có con CPU chạy tốc độ 1.5Ghz trong khi đó hard disk của bạn thuộc loại "rùa bò" thì dù CPU có lẹ đến đâu nó cũng đàng phải....chờ thôi!
      Tính về tốc độ thì CPU bao giờ cũng lẹ nhất, sau đó là Cache, sau nữa là các loại RAM.
      Interface: bạn nên xem cấu trúc bên ngoài của memory nó có phù hợp với (ăn khớp) các thiết bị khác của bạn không. Ví dụ, nhiều loại RAM tren thị trường có số chân cắm và đặc tính khác nhau. Để phù hợp cho motherboard của bạn, bạn nên xem xét motherboard trước khi mua memory.
      Các loại memory

      ROM (Read Only Memory)
      Ðây là loại memory dùng trong các hãng sãn xuất là chủ yếu. Nó có đặc tính là thông tin lưu trữ trong ROM không thể xoá được và không sửa được, thông tin sẽ được lưu trữ mãi mãi. Nhưng ngược lại ROM có bất lợi là một khi đã cài đặt thông tin vào rồi thì ROM sẽ không còn tính đa dụng (xem như bị gắn "chết" vào một nơi nào đó). Ví dụ điển hình là các con "chip" trên motherboard hay là BIOS ROM để vận hành khi máy vi tính vừa khởi động.

      PROM (Programmable ROM)
      Mặc dù ROM nguyên thủy là không xoá/ghi được, nhưng do sự tiến bộ trong khoa học, các thế hệ sau của ROM đã đa dụng hơn như PROM. Các hãng sản xuất có thể cài đặt lại ROM bằng cách dùng các loại dụng cụ đặc biệt và đắt tiền (khả năng người dùng bình thường không thể với tới được). Thông tin có thể được "cài" vào chip và nó sẽ lưu lại mãi trong chip. Một đặc điểm lớn nhất của loại PROM là thông tin chỉ cài đặt một lần mà thôi. CD có thể được gọi là PROM vì chúng ta có thể copy thông tin vào nó (một lần duy nhất) và không thể nào xoá được.

      EPROM (Erasable Programmable ROM)
      Một dạng cao hơn PROM là EPROM, tức là ROM nhưng chúng ta có thể xoá và viết lại được. Dạng "CD-Erasable" là một điển hình. EPROM khác PROM ở chổ là thông tin có thể được viết và xoá nhiều lần theo ý người xử dụng, và phương pháp xoá là hardware (dùng tia hồng ngoại xoá) cho nên khá là tốn kém và không phải ai cũng trang bị được.

      EEPROM (Electronic Erasable Programmable ROM)
      Ðây là một dạng cao hơn EPROM, đặt điểm khác biệt duy nhất so với EPROM là có thể ghi và xoá thông tin lại nhiều lần bằng software thay vì hardware. Ví dụ điển hình cho loại EPROM nầy là "CD-Rewritable" nếu bạn ra cửa hàng mua một cái CD-WR thì có thể thu và xoá thông tin mình thích một cách tùy ý. Ứng dụng của EEPROM cụ thể nhất là "flash BIOS". BIOS vốn là ROM và flash BIOS tức là tái cài đặt thông tin (upgrade) cho BIOS. Cái tiện nhất ở phương pháp nầy là bạn không cần mở thùng máy ra mà chỉ dùng software điều khiển gián tiếp.

      RAM (Random Access Memory)
      Rất nhiều người nghĩ là RAM khác với ROM trên nhiều khía cạnh nhưng thực tế RAM chẳng qua là thế hệ sau của ROM mà thôi. Cả RAM và ROM đều là "random access memory" cả, tức là thông tin có thể được truy cập không cần theo thứ tự. Tuy nhiên ROM chạy chậm hơn RAM rất nhiều. Thông thường ROM cần trên 50ns để vận hành thông tin trong khi đó RAM cần dưới 10ns (do cách chế tạo). Tôi sẽ trở lại với phần "shadow BIOS ROM" sau nầy.

      SRAM (Static RAM) và DRAM (Dynamic RAM)
      SRAM là loại RAM lưu giữ data mà không cần cập nhật thường xuyên (static) trong khi DRAM là loại RAM cần cập nhật data thường xuyên (high refresh rate). Thông thường data trong DRAM sẽ được refresh (làm tươi) nhiều lần trong một second để lưu giử lại những thông tin đang lưu trữ, nếu không refresh lại DRAM thì dù nguồn điện không ngắt, thông tin trong DRAM cũng sẽ bị mất.
      SRAM chạy lẹ hơn DRAM. Nhiều người có thể lầm lẫn là DRAM là "dynamic" cho nên ưu việt hơn. Điều đó không đúng. Trên thực tế, chế tạo SRAM tốn kém hơn hơn DRAM và SRAM thường có kích cỡ lớn hơn DRAM, nhưng tốc độ nhanh hơn DRAM vì không phải tốn thời gian refresh nhiều lần. Sự ra đời của DRAM chỉ là một lối đi vòng để hạ giá sản xuất của SRAM (tôi sẽ nói rõ hơn về bên trong CPU, DRAM, và SRAM).

      FPM-DRAM (Fast Page Mode DRAM)
      Ðây là một dạng cải tiến của DRAM, về nguyên lý thì FPM DRAM sẽ chạy lẹ hơn DRAM một tí do cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập thông tin. Những loại RAM như FPM hầu như không còn sản xuất trên thị trường hiện nay nữa.

      EDO-DRAM (Extended Data Out DRAM)
      Là một dạng cải tiến của FPM DRAM, nó chạy lẹ hơn FPM DRAM một nhờ vào một số cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập data. Một đặc điểm nữa của EDO DRAM là nó cần support của system chipset. Loại memory nầy chạy với máy 486 trở lên (tốc độ dưới 75MHz). EDO DRAM cũng đã quá cũ so với kỹ thuật hiện nay. EDO-DRAM chạy lẹ hơn FPM-DRAM từ 10 - 15%.

      BDEO-DRAM (Burst Extended Data Out DRAM)
      Là thế hệ sau của EDO DRAM, dùng kỹ thuật "pineline technology" để rút ngắn thời gian dò địa chỉ của data. Nếu các bạn để ý những mẫu RAM tôi giới thiệu trên theo trình tự kỹ thuật thì thấy là hầu hết các nhà chế tạo tìm cách nâng cao tốc độ truy cập thông tin của RAM bằng cách cải tiến cách dò địa chỉ hoặt cách chế tạo hardware. Vì việc giải thích về hardware rất khó khăn và cần nhiều kiến thức điện tử cho nên tôi chỉ lướt qua hoặc trình bày đại ý. Nhiều mẩu RAM tôi trình bày có thể không còn trên thị trường nữa, tôi chỉ trình bày để bạn có một kiến thức chung mà thôi.

      SDRAM (Synchronous DRAM)
      Ðây là một loại RAM có nguyên lý chế tạo khác hẳn với các loại RAM trước. Như tên gọi của nó là "synchronous" DRAM, synchronous có nghĩa là đồng bộ, nếu bạn học về điện tử số thì sẽ rõ hơn ý nghĩ của tính đồng bộ.
      Synchronous là một khái niệm rất quan trọng trong lĩnh vực digital, trong giới hạn về chuyên môn tôi cũng rất lấy làm khó giải thích. Bạn chỉ cần biết là RAM hoạt động được là do một memory controller (hay clock controller), thông tin sẽ được truy cập hay cập nhật mổi khi clock (dòng điện) chuyển từ 0 sang 1, "synchronous" có nghĩa là ngay lúc clock nhảy từ 0 sang 1 chứ không hẳn là clock qua 1 hoàn toàn (khi clock chuyển từ 0 sang 1 hay ngược lại, nó cần 1 khoảng thời gian interval, tuy vô cùng ngắn nhưng cũng mất 1 khoảng thời gian, SDRAM không cần chờ khoảng interval này kết thúc hoàn toàn rồi mới cập nhật thông tin, mà thông tin sẽ được bắt đầu cập nhật ngay trong khoảng interval). Do kỹ thuật chế tạo mang tính bước ngoặc nầy, SDRAM và các thế hệ sau có tốc độ cao hơn hẳn các loại DRAM trước.
      Đây là loại RAM thông dụng nhất trên thị trường hiện nay, tốc độ 66-100-133Mhz.

      DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM)
      Ðây là loại memory cải tiến từ SDRAM. Nó nhân đôi tốc độ truy cập của SDRAM bằng cách dùng cả hai quá trình đồng bộ khi clock chuyển từ 0 sang 1 và từ 1 sang 0. Ngay khi clock của memory chuyển từ 0 sang 1 hoặc từ 1 sang 0 thì thông tin trong memory được truy cập.
      Loại RAM này được CPU Intel và AMD hỗ trợ, tốc độ hiện tại vào khoảng 266Mhz. (DDR-SDRAM đã ra đời trong năm 2000)

      DRDRAM (Direct Rambus DRAM)
      Ðây lại là một bước ngoặc mới trong lĩnh vực chế tạo memory, hệ thống Rambus (cũng là tên của một hãng chế tạo nó) có nguyên lý và cấu trúc chế tạo hoàn toàn khác loại SDRAM truyền thống. Memory sẽ được vận hành bởi một hệ thống phụ gọi là Direct Rambus Channel có độ rộng 16 bit và một clock 400MHz điều khiển. (có thể lên 800MHz)
      Theo lý thuyết thì cấu trúc mới nầy sẽ có thể trao đổi thông tin với tốc độ 800MHz x 16bit = 800MHz x 2 bytes = 1.6GB/giây. Hệ thống Rambus DRAM như thế nầy cần một serial presence detect (SPD) chip để trao đổi với motherboard. Ta thấy kỹ thuật mới nầy dùng 16bits interface, trông trái hẳn với cách chế tạo truyền thống là dùng 64bit cho memory, bởi thế kỹ thuật Rambus (sở hữu chủ của Rambus và Intel) sẽ cho ra đời loại chân Rambus Inline Memory Module (RIMM) tương đối khác so với memory truyền thống.
      Loại RAM này hiện nay chỉ được hỗ trợ bởi CPU Intel Pentum IV, khá đắt, tốc độ vào khoảng 400-800Mhz

      SLDRAM (Synchronous-Link DRAM)
      Là thế sau của DRDRAM, thay vì dùng Direct Rambus Channel với chiều rộng 16bit và tốc độ 400MHz, SLDRAM dùng bus 64bit chạy với tốc độ 200MHz. Theo lý thuyết thì hệ thống mới có thể đạt được tốc độ 400Mhz x 64 bits = 400Mhz x 8 bytes = 3.2Gb/giây, tức là gấp đôi DRDRAM. Ðiều thuận tiện là là SLDRAM được phát triển bởi một nhóm 20 công ty hàng đầu về vi tính cho nên nó rất da dụng và phù hợp nhiều hệ thống khác nhau.

      VRAM (Video RAM)
      Khác với memory trong hệ thống và do nhu cầu về đồ hoạ ngày càng cao, các hãng chế tạo graphic card đã chế tạo VRAM riêng cho video card của họ mà không cần dùng memory của hệ thống chính. VRAM chạy lẹ hơn vì ừng dụng Dual Port technology nhưng đồng thời cũng đắt hơn rất nhiều.

      SGRAM (Synchronous Graphic RAM)
      Là sản phẩm cải tiến của VRAM mà ra, đơn giản nó sẽ đọc và viết từng block thay vì từng mảng nhỏ.

      Flash Memory
      Là sản phẩm kết hợp giửa RAM và hard disk. Có nghĩa là Flash memory có thể chạy lẹ như SDRAM mà và vẫn lưu trữ được data khi power off.

      PC66, PC100, PC133, PC1600, PC2100, PC2400....
      Chắc khi mua sắm RAM bạn sẽ thấy họ đề cập đến những từ như trên. PC66, 100, 133MHz thì bạn có thể hiểu đó là tốc độ của hệ thống chipset của motherboard. Nhưng PC1600, PC2100, PC2400 thì có vẻ hơi...cao và quái lạ! Thực ra những từ nầy ra đời khi kỹ thuật Rambus phát triển. Ðặt điểm của loại motherboard nầy là dùng loại DDR SDRAM (Double Data Rate Synchronous Dynamic RAM). Như đã đề cập ở phần trên, DDR SDRAM sẽ chạy gấp đôi (trên lý thuyết) loại RAM bình thường vì nó dùng cả rising and falling edge của system clock. Cho nên PC100 bình thường sẽ thành PC200 và nhân lên 8 bytes chiều rộng của DDR SDRAM: PC200 * 8 = PC1600. Tương tự PC133 sẽ là PC133 * 2 * 8bytes = PC2100 và PC150 sẽ là PC150 * 2 * 8 = PC2400.

      BUS: gồm nhiều dây dẫn điện nhỏ gộp lại, là hệ thống hành lang để dẫn data từ các bộ phận trong computer (CPU, memory, IO devices). BUS có chứa năng như hệ thống ống dẫn nước, nơi nào ống to thì nước sẽ chạy qua nhiều hơn, còn sức nước mạnh hay yếu là do các bộ phận khác tạo ra.
      FSB (Front Side Bus) hành lang chạy từ CPU tới main memory
      BSB (Back Side Bus) hành lang chạy từ memory controller tới L2 (Cache level 2)

      Cache memory
      Là loại memory có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1MB) và chạy rất lẹ (gần như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache memory nằm gần CPU và có nhiệm vụ cung cấp những data thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache là một cách nâng cao hiệu quả truy cập thông tin của máy tính mà thôi. Những thông tin bạn thường dùng (hoặc đang dùng) thường được chứa trong Cache, mổi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache memory trước xem có tồn tại hay không, nếu có nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào RAM hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft Word lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ nhì thì lẹ hơn rất nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word đã được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và xài lại thôi.
      Lý do Cache memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU (về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache memory nằm gần CPU, trong nhiều trường hợp Cache memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache Level 1 (L1), Cache level 2 (L2)...là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache L1 gần CPU nhất, sau đó là Cache L2...

      Interleave
      Là một kỹ thuật làm tăng tốc độ truy cập thông tin bằng giảm bớt thời gian nhàn rổi của CPU. Ví dụ, CPU cần đọc thông tin thông từ hai nơi A và B khác nhau, vì CPU chạy quá lẹ cho nên A chưa kịp lấy đồ ra CPU phải chờ rồi! A thấy CPU chờ thì phiền quá mới bảo CPU sang B đòi luôn sau đó trỡ lại A lấy cũng chưa muộn! Bởi thế CPU có thể rút bớt thời gian mà lấy được đồ ở cả A và B. Toàn bộ nghĩa interleave là vậy.

      Bursting
      Cũng là một kỹ thuật khác để giảm thời gian truyền tải thông tin trong máy tính. Thay vì CPU lấy thông tin từng byte một, bursting sẽ giúp CPU lấy thông tin mỗi lần là một block.

      ECC (Error Correction Code)
      Khi mua RAM bạn có thể thấy cụm từ nầy mô tả phụ thêm vào loại RAM. Ðây là một kỹ thuật để kiểm tra và sửa lổi trong trường hợp 1 bit nào đó của memory bị sai giá trị trong khi lưu chuyển data. Những loại RAM có ECC thường dùng cho các loại computer quan trọng như server. Tuy nhiên không có ECC cũng không phải là mối lo lớn vì theo thống kê 1 bit trong memory có thể bị sai giá trị khi chạy trong gần 750 giờ, người tiêu dùng bình thường như chúng ta đâu có ai mở máy liên tục tới...1 tháng đâu chớ!

      Register và Buffer (cùng như nhau)
      Ðôi khi mua memory bạn có thể thấy người bán đề cập đến tính chất của memory là có buffer, register...Buffer và Register chủ yếu dùng để quản lý các modules trên RAM. Trông hình vẽ dưới chắc bạn cũng sẽ nhận ra được loại RAM có buffer. Loại RAM có buffer hay register thì sẽ chạy chậm hơn loại RAM không có buffer hay register một ít.

      CAS (Column Address Strobe) latency
      Latency nghĩa là khoảng thời gian chờ đợi để làm cái gì đó, CAS latency là thuật ngữ diễn tả sự delay trong việc truy cập thông tin của memory và được tính bằng clock cycle. Ví dụ, CAS3 là delay 3 "clock cycle". Trong quá khứ các nhà sản xuất cố gắng hạ thấp chỉ số delay xuống nhưng nó sẽ tỷ lệ nghịch với giá thành sản phẩm.

      Cách tính dung lượng của memory (RAM)
      Thông thường RAM có hai chỉ số, ví dụ, 32Mx4. Thông số đầu biểu thị số hàng (chiều sâu) của RAM trong đơn vị Mega Bit, thông số thứ nhì biểu thị số cột (chiều ngang) của RAM. 32x4 = 32MegaBit x 4 cột = 128 Mega Bit = 128/8 Mega Bytes = 16MB. Có nhiều bạn có thể lầm tưởng thông số đầu là Mega Bytes nhưng kỳ thực các hãng sãn xuất mặc định nó là Mega Bit, bạn nên lưu nhớ cho điều nầy khi mua RAM. Ví dụ, 32Mx64 RAM tức là một miếng RAM 256MB.

      Số Pin của RAM

      Khi chọn RAM, ngoài việc chú ý tốc độ, sức chứa, ta phải coi số Pin của nó. Thông thường sốPin của RAM là (tuỳ vào loại RAM): 30, 72, 144, 160, 168, 184 pins.

      SIMM (Single In-Line Memory Module)
      Ðây là loại ra đời sớm và có hai loại hoặc là 30 pins hoặc là 72 pins. Người ta hay gọi rõ là 30-pin SIMM hoặc 72-pin SIMM. Loại RAM (có cấu hình SIMM) nầy thường tải thông tin mỗi lần 8bits, sau đó phát triễn lên 32bits. Bạn cũng không cần quan tâm lắm đến cách vận hành của nó, nếu ra ngoài thị trường bạn chỉ cần nhận dạng SIMM khi nó có 30 hoặc 72 pins. Loại 72-pin SIMM có chiều rộng 41/2" trong khi loại 30-pin SIMM có chiều rộng 31/2"

      DIMM (Dual In-line Memory Modules)
      Cũng gần giống như loại SIMM mà thôi nhưng có số pins là 72 hoặc 168. Một đặc điểm khác để phân biệt DIMM với SIMM là cái chân (pins) của SIMM dính lại với nhau tạo thành một mảng để tiếp xúc với memory slot trong khi DIMM có các chân hoàn toàn cách rời độc lập với nhau. Một đặc điểm phụ nửa là DIMM được cài đặt thẳng đứng (ấn miếng RAM thẳng đứng vào memory slot) trong khi SIMM thì ấn vào nghiêng khoảng 45 độ. Thông thường loại 30 pins tải data 16bits, loại 72 pins tải data 32bits, loại 144 (cho notebook) hay 168 pins tải data 64bits.

      SO DIMM (Small Outline DIMM)
      Ðây là loại memory dùng cho notebook, có hai loại pin là 72 hoặc 144. Nếu bạn để ý một tý thì thấy chúng có khổ hình nhỏ phù hợp cho notebook. Loại 72pins vận hành với 32bits, loại 144pins vận hành với 64bits.

      RIMM (Rambus In-line Memory Modules) và SO RIMM (RIMM dùng cho notebook)
      Là technology của hãng Rambus, có 184 pins (RIMM) và 160 pins (SO RIMM) và truyền data mỗi lần 16bit (thế hệ củ chỉ có 8bits mà thôi) cho nên chạy nhanh hơn các loại củ. Tuy nhiên do chạy với tốc độ cao, RIMM memory tụ nhiệt rất cao thành ra lối chế tạo nó cũng phải khác so với các loại RAM truyền thống. Như hình vẽ bên dưới bạn sẽ thấy miến RAM có hai thanh giải nhiệt kẹp hai bên gọi là heat speader. Nếu bạn dùng Pentium 4 sẽ gặp loại RAM nầy.
      ST
      Cảm ơn bài viết rất công phu, hay lắm.

      cảm ơn lãng khách về bài viết này!
      Lần sửa cuối bởi minhtuyenht75; 14/04/11 lúc 04:13 PM Lý do: **** Bài Tự động ghép ****
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    17. #9
      B------
      Danh vọng
      Avatar của havannam0506
      Ngày tham gia
      29/08/10
      Bài gửi
      1
      Cảm ơn
      0
      Được cảm ơn 0 lần trong 0 Bài viết
      REP Power
      0

      Mặc định

      cảm ơn bác rất nhiều về những kiến thức về cache của CPU và các loại bộ nhơ.nhưng em có 1 câu hỏi muốn hỏi các bác
      có rất nhiều tài liệu nói về cấu hình L2 cache trong CPU trên nền windows trong các tài liệu đó nói mặc đinh windows chỉ nhận 256KB cache L2 thôi
      em muốn hỏi các bac vậy cấu hình L3 cache nhủ thế nào trong môi trường windows?
      hay là L3 cache tự nhận ?
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    18. 02/07/11, 08:45 PM


    19. #10
      Đại lý Bán hàng
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Avatar của nh0kutebuon
      Ngày tham gia
      23/06/11
      Đến từ
      Nam Đàn - Nghệ An
      Bài gửi
      662
      Cảm ơn
      716
      Được cảm ơn 461 lần trong 287 Bài viết
      REP Power
      14

      Mặc định

      máy em có L2 4M thì thuộc loại nào anh LK. có được coi là cao không.
      em tra trên mạng thấy cách tinh chỉnh L2 cache như thế này không biết có đúng không
      anh giải thích hộn em nhá cách làm như sau:
      bước 1

      mở Registry
      tìm đường dẫn như sau:
      HKEY_LOCAL_MACHINE
      SYSTEM
      ControlSet001
      Control
      Session Manager
      Memory Management

      Bước 2

      Nhấn 2 lần chuột vào SecondLevelDataCache trong khung bên phải
      chọn Decimal trong hộp thoại Base rồi nhập dung lượng L2 Cache
      vào khung Value data với đơn vị nhập là KB dung lượng cần chú ý là
      chú ý là : L2 Cache là 1MB thì nhập 1024, 2MB thì nhập 2048
      Sau đó chọn OK,
      đóng Registry lại
      khởi động lại máy
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    20. 20/07/11, 07:48 PM

      Lý do Spam ngớ ngẩn.

    21. #11
      B------
      Danh vọng
      Avatar của qlucky528
      Ngày tham gia
      30/06/11
      Đến từ
      ho chi minh
      Bài gửi
      3
      Cảm ơn
      30
      Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết
      REP Power
      0

      Mặc định




      anh lãng khách ơi làm ơn chỉ giúp em,em mới tải bản ghost trên mạng về.cài xong thì thấy hiện 2 cai ổ khoá như trên,bấm vào thì ra như vậy,a làm ơn chỉ em phải cài thế nào vậy a?em mù tịt về mấy cái này

      cảm ơn anh trước nhé!
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    22. #12
      Bkav P--
      Danh vọng Danh vọng Danh vọng
      Avatar của lonely_haipro
      Ngày tham gia
      14/01/10
      Đến từ
      BF Master Group
      Bài gửi
      484
      Cảm ơn
      453
      Được cảm ơn 248 lần trong 151 Bài viết
      REP Power
      18

      Mặc định Re: Tìm hiểu về cache L1, L2, bộ nhớ RAM, ROM?

      em đánh dấu bài anh Lãng cái! Thanks anh!
      "Yêu nhau trong sáng, phang nhau trong tối"
      Trả lời nhanh   Trả lời với trích dẫn

    23. Thành viên đã cảm ơn lonely_haipro vì bài viết:
      Lãng khách  (12/04/12)

    Quyền viết bài

    • Bạn không thể gửi chủ đề mới
    • Bạn không thể gửi trả lời
    • Bạn không thể gửi file đính kèm
    • Bạn không thể sửa bài viết của mình
    •